Export
"Xuất khẩu Việt Nam: Khi Bức Tranh Tổng Thể Che Khuất Những Điểm Sáng Đầy Hy Vọng"
Tăng trưởng xuất khẩu giảm tốc: một câu chuyện hai bức tranh
Thời gian gần đây, câu chuyện tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam đang khiến nhiều người phải suy ngẫm. Xuất khẩu đã giảm tốc trong 3 tháng liên tiếp, tạo nên một bức tranh có vẻ ảm đạm. Con số thống kê cho thấy sự sụt giảm đáng kể, khiến không ít người lo lắng về tương lai của nền kinh tế.
Thế nhưng, khi đi sâu vào nguyên nhân, ta mới thấy câu chuyện không đơn giản như vẻ bề ngoài. Sự suy giảm này chủ yếu xuất phát từ ngành hàng thiết bị điện tử, vốn là một lĩnh vực mũi nhọn nhưng đang đối mặt với thách thức lớn từ thị trường toàn cầu. Những bất ổn trong chuỗi cung ứng, nhu cầu giảm sút từ các thị trường lớn đã kéo ngành này chậm lại.
Đáng chú ý, các nhóm hàng hóa khác lại đang có dấu hiệu hồi phục. Xuất khẩu nông sản, dệt may, và đồ gỗ đều ghi nhận những tín hiệu tích cực, thậm chí tăng trưởng ổn định trong những tháng qua. Điều này chứng tỏ rằng không phải toàn bộ nền kinh tế đang “chững lại,” mà chỉ là một phần nhỏ đang gặp khó khăn.
Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong tháng 6, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 63,24 tỷ USD, giảm 2,7% so với tháng trước và tăng 11,7% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 6 tháng đầu năm 2024, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 368,5 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 14,5%; nhập khẩu tăng 17%. Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 11,63 tỷ USD.
Trong đó, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 190,08 tỷ USD, tăng 14,5% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 53,39 tỷ USD, tăng 20,6%, chiếm 28,1% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 136,69 tỷ USD, tăng 12,3%, chiếm 71,9%.
Có 29 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 91,4% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 7 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 65,6%).
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu 6 tháng đầu năm 2024, nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản ước đạt 2,29 tỷ USD, chiếm 1,2%; nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 166,79 tỷ USD, chiếm 87,7%; nhóm hàng nông sản, lâm sản ước đạt 16,64 tỷ USD, chiếm 8,8%; nhóm hàng thủy sản ước đạt 4,36 tỷ USD, chiếm 2,3%
Theo số liệu sơ bộ của Tổng cục Hải quan, lũy kế từ ngày 01/01 đến hết ngày 14/02/2024, tổng trị giá XNK hàng hóa của cả nước đạt 82,56 tỷ USD, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm 2023, trong đó, XK hàng hóa đạt tổng trị giá gần 43,83 tỷ USD, tăng 21,6% và NK hàng hóa đạt tổng trị giá 38,73 tỷ USD, tăng 12,4%. Như vậy, tính từ đầu năm 2024 đến hết ngày 14/02, cán cân thương mại của Việt Nam xuất siêu 5,1 tỷ USD.
Các con số trên cho thấy xu hướng tăng tích cực của hoạt động XNK hàng hóa trong 1,5 tháng đầu năm nay. Đặc biệt, số liệu tháng 1 rất ấn tượng (tổng kim ngạch XNK tăng 40,3% yoy, XK tăng 46%, NK tăng 34,4%) nhưng còn là do vấn đề hiệu ứng số (cùng kỳ năm 2023, Tết Nguyên đán rơi vào tháng 1). Con số lũy kế từ đầu năm đến hết 14/02 phần nào cho thấy, hoạt động XNK vẫn tiếp tục đà khởi sắc từ những tháng cuối năm 2023. Đặc biệt, trong giai đoạn này, các mặt hàng XK chủ lực của nước ta tăng tích cực so với cùng kỳ 2023, cụ thể: gỗ và các sản phẩm gỗ tăng 51,67%; máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện tăng 37,93%; dệt may tăng 18,55%; giày dép các loại tăng 16,51%; phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 15,86%; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng tăng 12,1%...
Mặc dù vậy, theo đánh giá của Bộ Công thương, năm nay, bối cảnh thế giới được dự báo tiếp tục có những chuyển biến lớn và khó lường với nhiều cơ hội và thách thức đan xen tác động đến hoạt động XNK. Cụ thể, xu hướng phi toàn cầu hoá trỗi dậy mạnh mẽ, chính sách bảo hộ xuất hiện trở lại ở nhiều nước dưới các hình thức khác nhau khiến nhu cầu NK hàng hóa giảm. Bên cạnh đó, các nước phát triển, nhất là các thị trường XK chủ chốt của Việt Nam, càng ngày càng quan tâm nhiều đến các vấn đề an toàn cho người tiêu dùng, phát triển bền vững, chống biến đổi khí hậu, từ đó dựng lên những tiêu chuẩn và quy định mới với các sản phẩm NK. Ngoài ra, cuộc chiến ở Biển Đỏ cũng gây thêm áp lực cho hoạt động XNK hàng hóa. Tổng kim ngạch hàng hóa XNK nước ta tới Châu Âu và Bắc Mỹ qua Kênh đào Suez trên Biển đỏ chiếm tới gần 30% tổng giá trị XNK trong năm 2023. Do đó, khả năng tác động của cuộc xung đột Biển Đỏ đến Việt Nam là không nhỏ, cụ thể: giá cước vận chuyển tăng cao (tới Bắc Mỹ có thể tăng từ 50 – 70%; đi Châu Âu tăng gấp 2-3 lần), tình trạng thiếu container do thời gian vận chuyển kéo dài, khả năng đáp ứng nhu cầu XK giảm… Điều đáng lo ngại hơn nữa là không thể dự đoán được những rủi ro này đến khi nào sẽ kết thúc. Một thách thức nữa là sự gia tăng cạnh tranh từ các nước xuất khẩu đổi thủ như Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan… Trong nước, các doanh nghiệp còn phải đương đầu với chi phí đầu vào tăng do tăng giá điện, tăng lương cơ bản,...
Ở một góc độ khác, XK vẫn có nhiều cơ hội tăng trưởng trong năm 2024 khi kinh tế thế giới dần hồi phục, đơn đặt hàng mới có dấu hiệu tăng dần, vấn đề hàng tồn kho cao tại nhiều quốc gia đang dần được khắc phục. Ngoài ra, các chuyên gia nhận định, làn sóng đầu tư của các doanh nghiệp có vốn ĐTTTNN trong lĩnh vực công nghệ vào Việt Nam tăng mạnh trở lại. Việc tăng vốn của các NĐTNN để mở rộng sản xuất tại Việt Nam đồng nghĩa với việc nới rộng tăng trưởng XK của các mặt hàng này trong những năm tới…
Bộ Công thương dự kiến chỉ tiêu phấn đấu về thương mại năm 2024 là tổng kim ngạch XK tăng trên 6% so với năm 2023, CCTM tiếp tục có xuất siêu.
*** Cập nhật tình hình xuất khẩu tháng 11
(Hình 1)
1) Xuất khẩu thép đạt 644tr USD gần như đi ngang so với Tháng 10 và tăng 39% so với nền thấp cùng kỳ
- Trong đó thị phần Ấn Độ (Màu tím) đang phình ra. Dự kiến thị phần Ấn Độ sẽ tiếp tục chiếm tỉ trọng cao trong giai đoạn tới khi nhiều bên đánh giá nhu cầu nước này tiếp tục tăng.
...
(Hình 2)
2) Xuất khẩu thủy sản đạt 790tr USD giảm nhẹ so với cùng kỳ
- Trong đó kỳ vọng nhu cầu tăng dần của Mỹ vào dịp cuối năm lại hơi thất vọng khi thị phần này giảm dần từ T8 đến nay, cùng đà giảm của TQ khiến tổng suất khẩu giảm nhẹ.
- Gía trong nước: cá tra hiện tại đang ở vùng đáy 25.5, ngược lại giá tôm đang tăng trở lại từ đầu tháng 12 đến nay (tôm sú +24%, tôm thẻ +4%)
...
(Hình 3)
3) Xuất Khẩu Gạo đạt 400tr USD qua rồi giai đoạn cao điểm tháng 4 và tháng 8, khi thị phần chủ lực là Philippin suy giảm (màu xanh dương), và Trung Quốc (màu vàng) ko còn đáng kể
- Dẫu Giá Xuất khẩu gạo vẫn tiếp tục đà tăng đạt 0.67 USD/Kg (+31% so với đầu năm)
(Điểm lưu ý tình hình khả quan của gạo lại ko phản ánh vào lợi nhuận doanh nghiệp gạo trên sàn, 1 phần bởi lãi vay ăn mòn)
...
(Hình 4)
4) Xuất Khẩu Gỗ tháng 11 đạt 1.221tr USD
- Trong đó thị phần chủ lực là Mỹ tiếp tục xu hướng phục hồi từ đầu năm đến nay, tuy nhiên tổng xuất khẩu từ đầu Quý 4 có dấu hiệu chững lại, khi không còn giữ dc tốc độ tăng như đầu năm
...
(Hình 5)
5) Xuất khẩu Hóa chất T11 đạt 205tr USD . Từ tháng 9/2023 đến nay có sự phục hồi dần bởi nhu cầu từ Trung Quốc
- Giá Phót pho vàng trung quốc gần như đi ngang từ tháng 9 đến nay
sau khi tạo đáy ở Q2
Macro_AI | Xuất siêu tháng 10 ~3.0 tỷ USD, lũy kế 10T ~24 tỷ USD - CAO NHẤT LỊCH SỬ.
Vĩ mô tháng 10 chưa có nhiều khởi sắc ở các khu vực kinh tế quan trọng ở cả phía tổng cầu và tổng cung. Trong đó, sản xuất công nghiệp phục hồi chậm, không những thế số ước tính tháng trước luôn hụt đi khi được cập nhật là số thực hiện ở tháng sau. Tiêu dùng bán lẻ kéo dài 5 tháng liên tiếp tăng trưởng (yoy) dưới 10%, khá khiêm tốn so với quán tính có được ở giai đoạn trước 2020. Tựu chung màu nền bức tranh vĩ mô hiện tại khá là kém sáng, chưa có tưng bừng phấn khởi như kỳ vọng. Tuy nhiên vẫn còn đâu đó một vài tia sáng tích cực có thể kể tới như: Lạm phát, thặng dư thương mại (BoT). Cụ thể ở lạm phát cơ bản xác nhận hạ nhiệt rõ hơn, với tháng thứ 2 liên tiếp dưới 4.0%, tháng 10 năm nay so với cùng kỳ chỉ là 3.43%. Hay khi quan sát các chỉ tiêu CPI tháng vs tháng cũng đang không cho thấy nhiều xung lực khiến lạm phát biến động mạnh trong thời gian tới. Còn với BoT, xuất siêu tháng 10 ~3.0 tỷ USD, nâng tổng thặng dư thương mại (BoT) sau 10 tháng là hơn 24 tỷ USD - cao nhất từ trước tới nay. Cần lưu ý rằng ở các tháng gần đây, nhu cầu nhập khẩu đã tăng trở lại, với tổng kim ngạch nhập khẩu lần đầu tiên vượt 29 tỷ USD lần đầu tiên kể từ tháng 08.2022, & tăng 5.0% yoy; +2.9% mom. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu của khối doanh nghiệp trong nước có bước tăng nhanh hơn với quy mô 10.3 tỷ USD trong tháng 10 +8.5% & 0.8% mom.
Cho góc nhìn vĩ mô 6-12 tháng tới, AI tiếp tục nhấn mạnh nhiều những kịch bản thiếu chắc chắn ở trong và ngoài nước. Với trong nước là nút thắt thanh khoản đặc biệt ở thị trường bất động sản còn nhiều vướng mắc. Với thế giới là sức cầu tại thị trường chính còn nhiều nghi vấn cho những phục hồi mạnh mẽ ở 2024. Dẫu vậy, sự bi quan là không cần thiết, AI cho rằng nền kinh tế Việt Nam vẫn đang có được những bệ đỡ vững chắc & điểm tựa dẻo dai nhất định cho sự khác biệt, tạo điểm sáng so với các nền kinh tế khác trong khu vực & trên thế giới.
Ở ART INVESTOR, AI team nắm rõ từng chi tiết các con số, câu chuyện từng doanh nghiệp trước khi mở vị thế đầu tư. Hãy tương tác & chia sẽ để lan tỏa bài viết nếu bạn cảm thấy hữu ích cho cộng đồng. Để có thể trở thành độc giả thân thiết và nhận các Báo cáo phân tích, đầu tư chuyên sâu của AI. Quý độc giả vui lòng đăng ký tại link phía dưới.
#AI_team | #Artinvestor
Đăng ký KHUYẾN NGHỊ ĐẦU TƯ tại: http://bit.ly/Artinvestor_Report
Số liệu được Tổng cục Thống kê công bố sáng 29/8 cho thấy trong tháng 8/2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 60,92 tỷ USD, tăng 6,7% so với tháng trước và giảm 7,9% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, đây là tháng đầu tiên từ đầu năm 2023, kim ngạch xuất nhập khẩu cả nước đạt mốc 60 tỷ USD/tháng. Trong 7 tháng trước đó, xuất nhập khẩu thường ở mức hơn 50 tỷ USD/tháng, thậm chí tháng 1 và tháng 2 chưa đạt được con số 50 tỷ USD/tháng.
Trong nhóm 6 mặt hàng chủ lực xuất khẩu sang Mỹ, nhìn từ số liệu, nhóm hàng dệt may đang có sự phục hồi rõ nét theo tháng. Giá trị xuất khẩu của nhóm hàng này theo xu hướng tăng liên tục từ đầu năm đến nay. So sánh với cùng kỳ, xuất khẩu hàng dệt, may vẫn tăng trưởng âm do mức nền năm ngoái cao, tuy nhiên đà giảm đang dần thu hẹp trong 3 tháng trở lại đây. Chuyên gia Kinh tế trưởng của VinaCapital, ông Michael Kokalari, cũng nhận định có một số tín hiệu cho thấy xuất khẩu sẽ phục hồi vào quý IV nhờ tồn kho của các nhà bán lẻ ở Mỹ đã chạm đáy. Đầu năm 2023, doanh số bán hàng toàn cầu của máy tính cá nhân giảm hơn 30% so với cùng kỳ năm trước (xuất khẩu sản phẩm công nghệ cao của Việt Nam giảm hơn 10% trong nửa đầu năm 2023), nhưng sự sụt giảm doanh số bán hàng đối với mặt hàng máy tính cá nhân và hàng điện tử tiêu dùng đã kết thúc - theo lời các điều hành cấp cao của Walmart. Họ cũng chỉ ra doanh số bán hàng sản phẩm điện tử tiêu dùng gần đây của Walmart đã cải thiện nhẹ. Samsung công bố doanh số bán hàng điện thoại thông minh giảm 12% trong quý II/2023 (cùng xu thế với sự suy giảm toàn cầu trong doanh số bán hàng điện thoại thông minh trong năm nay). Họ đang kỳ vọng về sự phục hồi trong nửa cuối năm nay, nhờ vào việc ra mắt các mẫu điện thoại mới, đặc biệt là điện thoại gập.Đối với mặt hàng may mặc và giày dép, VinaCapital dự báo xuất khẩu chưa phục hồi cho đến năm sau, vì tốc độ giảm lượng tồn kho của các nhà bán lẻ tại Mỹ cho các mặt hàng này đang chậm hơn so với sản phẩm điện tử tiêu dùng.
Ở chiều ngược lại, xuất khẩu của Mỹ sang Trung Quốc gần như đi ngang trong 5 tháng đầu năm, ở mức khoảng 62 tỷ USD. Dù con số này vẫn đủ để Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn thứ ba của Mỹ, tỷ trọng hàng Mỹ trong tổng nhập khẩu của Trung Quốc hiện là 7,5%, giảm từ mức đỉnh 9% của năm 2020 và chỉ bằng một nửa so với hàng Mexico và Canada. Năm 2009, Trung Quốc vượt Canada trở thành nước xuất khẩu hàng hóa lớn nhất vào Mỹ. Khi ngành sản xuất với chi phí cao của Mỹ trở nên kém cạnh tranh hơn trong bối cảnh suy thoái kinh tế do khủng hoảng tài chính gây ra, Trung Quốc đã tận dụng thời cơ với chi phí sản xuất thấp và chuỗi cung ứng tập trung để giành chỗ đứng trong thương mại toàn cầu. Trong khi đó, về phía Trung Quốc, nước này cũng đang hướng sang Đông Nam Á để xuất khẩu hàng hóa. Dù xuất khẩu sang Mỹ nửa đầu năm 2023 giảm 17% so với cùng kỳ năm trước, xuất khẩu của Trung Quốc sang ASEAN đã tăng 2%. Một số nhà quan sát cho rằng các nhà xuất khẩu của Trung Quốc có xu hướng chuyển sản phẩm sang Đông Nam Á để chế biến rồi từ đó xuất sang Mỹ và các quốc gia khác.
Tính chung 8 tháng năm 2023, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 435,23 tỷ USD, giảm 13,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu giảm 10%; nhập khẩu giảm 16,2%.
Cán cân thương mại hàng hóa 8 tháng năm 2023 ước tính xuất siêu 20,19 tỷ USD.
Cụ thể, về xuất khẩu tháng 8/2023 ước đạt 32,37 tỷ USD, tăng 7,7% so với tháng trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 8,43 tỷ USD, tăng 8,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 23,94 tỷ USD, tăng 7,3%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng Tám giảm 7,6%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 2,5%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) giảm 9,3%.
Tính chung 8 tháng năm 2023, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 227,71 tỷ USD, giảm 10% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 59,92 tỷ USD, giảm 9,2%, chiếm 26,3% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 167,79 tỷ USD, giảm 10,3%, chiếm 73,7%.
Trong 8 tháng năm 2023 có 30 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 91,8% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 5 mặt hàng xuất khẩu trên 10 tỷ USD, chiếm 58,4%).
Xu hướng giảm sút xuất khẩu của Trung Quốc vẫn tiếp diễn vào năm ngoái, tập trung chủ yếu vào các ngành lao động và sản xuất giá rẻ, vốn chiếm khoảng 26% tổng giá trị xuất khẩu của quốc gia này. Trong đó, xuất khẩu trong lĩnh vực công nghiệp dệt may và da giày của Trung Quốc ghi nhận mức giảm sút sâu nhất. Thị phần nhóm ngành này của Trung Quốc trên toàn cầu giảm xuống còn 29% vào năm 2022, từ mức 39,3% vào năm 2015, và “miếng bánh” dần thuộc về một số nước Liên minh châu (EU) và ASEAN. Nikkei Asia đánh giá, Việt Nam dường như là nền kinh tế hưởng lợi nhiều nhất từ việc tái cấu trúc hoạt động xuất khẩu toàn cầu.
Không giống như ngành dệt may và da giày, hầu hết thị phần các ngành công nghiệp khác của Trung Quốc trên toàn cầu vẫn tiếp tục ghi nhận tăng trưởng, đặc biệt là trong các ngành có chuyên môn cao và công nghệ. Theo đó, thị phần của Trung Quốc trong những ngành này, bao gồm máy móc và sản phẩm điện, đã tăng từ 17,9% vào năm 2015 lên 28,5% trong năm 2022.





























